• Trang chủ
  • GIỚI THIỆU
    • Giới thiệu chung
    • Ban lãnh đạo
    • Cơ cấu tổ chức
    • Khoa / Phòng / Trung Tâm
      • Khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm
      • Khoa Kiểm soát vector - Kiểm dịch Y tế
      • Khoa Vi sinh Miễn dịch
      • Khoa Sức khỏe môi trường - Dinh dưỡng
      • Khoa Sức khỏe nghề nghiệp - Kiểm soát bệnh không lây
      • Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật y tế dự phòng
      • Trung tâm Kiểm nghiệm - An toàn thực phẩm khu vực Tây Nguyên
      • Trung tâm Đào tạo
      • Phòng Tổ chức – Hành chính
      • Phòng Kế hoạch tổng hợp và Quản lý chất lượng
      • Phòng Vật tư - Quản trị
      • Phòng Tài chính - Kế toán
    • Đảng bộ
    • Công đoàn
    • Đoàn thanh niên
  • Chuyên môn
    • Phòng chống dịch
    • Tiêm chủng mở rộng
    • Dinh dưỡng – an toàn thực phẩm
    • Khoa Sức khỏe nghề nghiệp - Kiểm soát bệnh không lây
    • Đào tạo
    • Hợp tác quốc tế
    • Chỉ đạo tuyến
  • Hoạt động
  • Nghiên cứu khoa học
    • Các đề tài khoa học
    • Tin khoa học
    • Ân phẩm
    • Danh sách các bài báo khoa học đăng tạp chí trong nước
    • Hội đồng đạo đức
    • \
  • Dịch vụ
    • Khám tư vấn sức khỏe
    • Chích ngừa, phòng các bệnh truyền nhiễm
    • Xét nghiệm
      • Xét nghiệm sinh hóa máu, huyết học, nước tiểu
      • Xét nghiệm chất gây nghiện
      • Xét nghiệm miễn dịch
      • Xét nghiệm phân
      • Xét nghiệm vi sinh
      • Xét nghiệm mẫu không khí
      • Xét nghiệm mẫu nước
    • Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm
    • Chẩn đoán hình ảnh
      • Siêu âm màu
      • X-Quang kỹ thuật số
      • Loãng xương
    • Khám bệnh nghề nghiệp
  • Video
  • Hộp thư
  • Liên hệ
Trang chủ » Tin nước ngoài

Hướng dẫn nhanh của WHO về điều trị thuốc cho người nhiễm virus cúm gia cầm (H5N1)

Đăng ngày: 29/07/2014

Các trường hợp nhiễm virus cúm gia cầm A (H5N1) trên người vẫn còn hiếm gặp và rải rác nhưng bệnh rất nặng và số trường hợp tử vong cao. Hiện nay, virus H5N1 đã được xác nhận trên chim ở hơn 50 quốc gia, dự đoán sẽ có thêm các trường hợp rải rác ở người. 

Sử dụng các phương pháp triển khai hướng dẫn đổi mới dựa trên bằng chứng mới nhất, trong tháng 3 năm 2006 WHO đã nhóm họp hội đồng các chuyên gia quốc tế để xây dựng lời khuyên nhanh về điều trị thuốc trên bệnh nhân nhiễm H5N1. Khuyến nghị được phân loại là nhấn mạnh hoặc gợi ý và bao trùm nhiều nhóm bệnh nhân và nhóm tiếp xúc cụ thể trong điều trị và hoá dự phòng nhiễm H5N1. Tất cả khuyến nghị đều đặc trưng cho tình hình trước đại dịch hiện nay và dựa trên việc xem xét cẩn thận bằng chứng hiện nay về lợi ích, tác hại, gánh nặng và chi phí của việc can thiệp. Vì hiện nay chưa có thử nghiệm lâm sàng nào trên bệnh nhân nhiễm virus cúm gia cầm H5N1 nên chất lượng nói chung của bằng chứng để dựa vào đó mà đưa ra đánh giá là rất thấp.

Khuyến nghị về điều trị cho bệnh nhân đã được xác nhận hoặc nghĩ nhiều tới nhiễm virus H5N1

Ở nơi có sẵn thuốc ức chế neuraminidase:

Thầy thuốc lâm sàng nên điều trị bằng oseltamivir (khuyến nghị nhấn mạnh); zanamivir có thể được sử dụng làm thuốc thay thế (khuyến nghị gợi ý). Chất lượng của bằng chứng đối với việc sử dụng zanamivir là thấp hơn so với oseltamivir.

Thầy thuốc lâm sàng không nên sử dụng amantadin hoặc rimantadin đơn thuần làm liệu pháp điều trị đầu bảng (khuyến nghị nhấn mạnh).

Thầy thuốc lâm sàng có thể dùng phối hợp một chất ức chế neuraminidase với một chất ức chế M2 nếu dữ liệu giám sát tại địa phương cho thấy virus H5N1 chắc chắn hoặc có thể mẫn cảm (khuyến nghị gợi ý), nhưng điều này chỉ nên được tiến hành trong phạm vi của việc thu thập dữ liệu tiến cứu.

Ở nơi không có sẵn thuốc ức chế neuraminidase:

Thầy thuốc lâm sàng có thể sử dụng amantadin hoặc rimantadin làm liệu pháp điều trị đầu bảng nếu dữ liệu giám sát tại địa phương cho thấy virus H5N1 chắc chắn hoặc có thể mẫn cảm với những thuốc này (khuyến nghị gợi ý).

Khuyến nghị về hoá dự phòng

Để giúp đỡ các nước trong việc ưu tiên sử dụng thuốc kháng virus trong hoá dự phòng, đặc biệt là ở những nơi mà nguồn thuốc còn hạn chế, một phân loại nguy cơ 3 cấp về tiếp xúc được triển khai (xem phân loại nguy cơ).

Ở nơi có sẵn thuốc ức chế neuraminidase:

Ở các nhóm tiếp xúc nguy cơ cao, bao gồm phụ nữ mang thai, nên sử dụng oseltamivir làm thuốc dự phòng, liên tục trong 7-10 ngày sau lần tiếp xúc cuối cùng (khuyến nghị nhấn mạnh); có thể sử dụng zanamivir theo cách này (khuyến nghị nhấn mạnh) như thuốc thay thế.

Ở các nhóm tiếp xúc nguy cơ trung bình, bao gồm phụ nữ mang thai, có thể sử dụng oseltamivir làm thuốc dự phòng, liên tục trong 7-10 ngày sau lần tiếp xúc cuối cùng (khuyến nghị gợi ý); có thể sử dụng zanamivir theo cách này (khuyến nghị gợi ý)

Ở các nhóm tiếp xúc nguy cơ thấp có lẽ không nên sử dụng oseltamivir hoặc zanamivir làm thuốc dự phòng (khuyến nghị gợi ý). Phụ nữ mang thai trong nhóm nguy cơ thấp không nên sử dụng oseltamivir hoặc zanamivir để điều trị dự phòng  (khuyến nghị nhấn mạnh).

Không nên dùng amantadin hoặc rimantadin để điều trị dự phòng (khuyến nghị nhấn mạnh).

Ở nơi không có thuốc ức chế neuraminidase:

Ở các nhóm tiếp xúc nguy cơ cao hoặc trung bình, có thể sử dụng amantadin hoặc rimantadin để điều trị dự phòng nếu dữ liệu giám sát tại địa phương cho thấy virus chắc chắn hoặc có khả năng mẫn cảm với những thuốc này (khuyến nghị gợi ý).

Ở các nhóm tiếp xúc nguy cơ thấp, không nên sử dụng amatadin và rimantadin để điều trị dự phòng (khuyến nghị gợi ý).

Ở phụ nữ mang thai, không nên sử dụng amatadin và rimantadin để điều trị dự phòng (khuyến nghị nhấn mạnh).

Ở người già, người bị suy giảm chức năng thận, người sử dụng thuốc tâm thần kinh hoặc bị các rối loạn thần kinh hoặc co giật, không nên sử dụng amantadin để điều trị dự phòng (khuyến nghị nhấn mạnh).

Khuyến nghị với các thuốc điều trị khác:

Không nên sử dụng thường qui corticosteroid, globulin miễn dịch và interferon, và ribavirin bên ngoài phạm vi thử nghiệm ngẫu hoá, nhưng đặc biệt không nên dùng ribavirin cho phụ nữ mang thai (khuyến nghị nhấn mạnh)  .

Khuyến nghị về sử dụng kháng sinh

Chưa thể đưa ra những khuyến nghị cụ thể về từng kháng sinh vì mô hình kháng thuốc rất khác nhau giữa các nước. Tuy nhiên, khuyến nghị nói chung được đưa ra là:

Ở bệnh nhân bị viêm phổi mắc phải tại cộng đồng bất kể vị trí địa lý, bác sỹ lâm sàng nên làm theo hướng dẫn thực hành lâm sàng thích hợp (khuyến nghị nhấn mạnh).

Ở bệnh nhân được xác nhận hoặc nghĩ nhiều đến nhiễm H5N1 không cần dùng máy thở và không có chỉ định khác về kháng sinh, bác sỹ lâm sàng không nên sử dụng kháng sinh dự phòng (khuyến nghị nhấn mạnh).

Ở bệnh nhân được xác nhận hoặc nghĩ nhiều đến nhiễm H5N1 cần dùng máy thở, bác sỹ lâm sàng nên làm theo các hướng dẫn thực hành lâm sàng về phòng ngừa và điều trị viêm phổi do máy thở hoặc viêm phổi mắc phải tại viện (khuyến nghị nhấn mạnh).

Hội đồng chuyên gia khuyến khích thông tin phản hồi về tất cả các khía cạnh của hướng dẫn này, gồm khả năng ứng dụng ở từng nước. Sự xuất hiện các thứ týp virus cúm A mới hoặc sự thay đổi về tính gây bệnh hoặc tính lây truyền của virus H5N1, việc triển khai các thuốc mới hoặc các dữ liệu nghiên cứu lâm sàng quan trọng sẽ đưa đến việc cập nhật  những hướng dẫn này.

Phân loại nguy cơ

Các nhóm tiếp xúc nguy cơ cao hiện được định nghĩa là:

Những người có tiếp xúc gần gũi trong gia đình hoặc hộ gia đình của bệnh nhân được xác nhận hoặc nghĩ nhiều đến nhiễm H5N1, vì khả năng tiếp xúc với nguồn gia cầm hoặc môi trường chung cũng như tiếp xúc với chính bệnh nhân.

Các nhóm tiếp xúc nguy cơ trung bình hiện được định nghĩa là:

Nhân viên tham gia xử lý gia cầm ốm hoặc khử trùng môi trường có dịch (kể cả tiêu huỷ gia cầm) nếu không sử dụng đúng trang bị bảo hộ cá nhân.

Những người có tiếp xúc trực tiếp rất gần và không có bảo vệ với gia cầm ốm hoặc chết nhiễm virus H5N1 hoặc chim có liên quan trực tiếp đến các trường hợp nhiễm bệnh trên người.

Nhân viên y tế có tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân được xác nhận hoặc nghĩ nhiều đến nhiễm H5N1, ví dụ trong khi đặt nội quản hoặc tiến hành hút khí quản, đặt thuốc khí dung, hoặc xử lý dịch cơ thể không che đậy thích hợp mà không có hoặc thiếu trang bị bảo hộ cá nhân. Nhóm này cũng bao gồm cả nhân viên phòng xét nghiệm có thể có tiếp xúc với mẫu bệnh phẩm chứa virus mà không được bảo vệ.

Các nhóm tiếp xúc nguy cơ thấp hiện được định nghĩa là:

Nhân viên tế không tiếp xúc gần (khoảng cách > 1m) với bệnh nhân được xác nhận hoặc nghĩ nhiều đến nhiễm H5N1 và không có tiếp xúc trực tiếp với chất nhiễm trùng từ bệnh nhân.

Nhân viên y tế sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân thích hợp trong khi tiếp xúc với bệnh nhân H5N1.

Nhân viên tham gia tiêu hủy gia cầm không nhiễm bệnh hoặc có thể không nhiễm bệnh như là một biện pháp kiểm soát.

Nhân viên tham gia xử lý gia cầm ốm hoặc khử trùng môi trường có dịch (kể cả tiêu hủy gia cầm), có sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân thích hợp

Theo Cimsi-WHO

Lo ngại gia tăng cúm gia cầm ở Thổ Nhĩ Kỳ
Sự thay đổi di truyền trong một chủng Virus cúm gia cầm ở Thổ Nhĩ Kỳ
Các trường hợp tử vong bệnh sởi giảm 48% trong vòng 6 năm qua.
Cúm gia cầm - tình hình ở Indonesia
Cúm gia cầm ? tình hình ở Ai Cập
Ghép tủy sống có thể chữa trị được HIV/AIDS?
Phát hiện dòng virus H5N1 mới nguy hiểm
Liên kết

Tây Nguyên Institute of Hygiene and Epidemiology
34 Phạm Hùng, phường Tân An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk
Điện thoại: (0262)3.66.39.79 - Email: info@tihe.org.vn
© 2014 Bản quyền bởi Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên.